DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP-  Uy Tín Giá Rẻ Nhất


Dịch vụ kế toán thuế vật liệu chống thấm sika Bộ Tài Chính Thuế Nhà Nước VACPA

Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.

1. Hệ số tín nhiệm của trái phiếu

Hệ sồ' tín nhiệm là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh - Credit Rating. Thuật ngữ này do John Moody’s đưa ra và công bố vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắc, trong đó ông đã tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bô' bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1500 loại trái phiếu của 250 công ty theo hệ thông ký hiệu đơn giản và dễ hiểu vối 3 chữ cái được xếp lần lượt từ Aaa đến c. Chính những ký hiệu đó sau này trở thành chuẩn mực quốc tế. Từ việc xếp hạng tín nhiệm trái phiếu của các công ty đường sắt, Moody’s tiếp tục nghiên cứu và cho công bố bảng xếp hạng tín nhiệm trái phiếu của tất cả các nhà phát hành khác như các công ty công nghiệp, chính quyền trung ương và địa phương, các tổ chức tín dụng...
 
 Hệ số tín nhiệm của trái phiếu

1.1. Định nghĩa hệ sô tín nhiệm

Theo Bohn John viết trong cuốn "Phân tích rủi ro trong thị trường chuyển đổr thì hệ số tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó.
Theo công ty chứng khoán Merrill Lynch (Mỹ), hệ sô' tín nhiệm là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ về một khoản nợ nhất định.
Theo công ty Moody’s, hệ số tín nhiệm thể hiện khả năng sẵn sàng thanh toán đúng hạn của một nhà phát hành cho một khoản nợ nhất định trong suôt thời gian tôn tại cua khoan nợ đó.
Như vậy, ta có thể hiểu khái quát, hệ số tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả gốc và lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thòi gian tồn tại của chứng khoán đó.
Cần lưu ý rằng, về mặt nào đó, hệ số tín nhiệm có thể được xem là một hình thức tư vấn đầu tư chứng khoán. Song đây không hoàn toàn là một lời khuyên mua hay bán bất kỳ loại chứng khoán nào. Hệ sô' tín nhiệm được ấn định cho nhà phát hành, nó luôn gắn với một khoản nợ nhất định của nhà phát hành đó. Hầu hết các chứng khoán nợ được xếp hạng tín nhiệm như trái phiêu công ty, trái phiếu chính phủ, các loại trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng... Hiện nay, một sô' nước còn xếp hạng tín nhiệm cả cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường, các đối tượng vay vốn ngân hàng...

1.2. Bảng ký hiệu hệ sô'tín nhiệm

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng hệ thông xếp hạng tín nhiệm, các công ty xác định hệ số tín nhiệm đã đưa ra một hệ thông các ký hiệu. Bảng xếp hạng tín nhiệm được săp xếp theo thứ tự giảm dần về độ an toàn hay tăng dần về độ rủi ro. Có nghĩa là, khỉ nhà phát hành được xếp hạng tín nhiệm đạt mức cao nhất (khả năng xảy ra rủi ro là thấp nhât) thì được xêp đâu tiên. Thông thường, bảng xếp hạng tín nhiệm được chia thành hai loại: Bảng xếp hạng tín nhiệm biểu hiện cho các công cụ nợ ngắn hạn và cho các công cụ nợ dài hạn.
Hệ thông xếp hạng tín nhiệm tiêu biểu nhất hiện nay là hệ thông ký hiệu của hai công ty xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới là Moody’s và s&p được xây dựng trên cơ sỗ khung ký hiệu do John Moody’s sáng tạo và trở thành tiêu chuân đê xây dựng hệ thông ký hiệu xêp hạng tín nhiệm của hầu hết các công ty trên thê giối.
 

Moodys

s&p

Diễn giải

A a a

AAA

Chứng khoán có chất lượng cao, rủi ro thấp, khả năng trả nơ manh nhất

A aa

AA

Chứng khoán có chất lượng cao, rủi ro thấp, khả năng trả nơ mạnh

A

A

Chứng khoán trên mức trung bình

B aa

BBB

Chứng khoán trung bình, mức độ an toàn và rủi ro không cao, không thấp, không có dấu hiêu nguy hiểm

Ba

BB

Chứng khoán có biểu hiện tính đầu cơ

B

B

Chứng khoán thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư

Caa

ccc

Kỹ năng trả nơ thấp, dễ vỡ nợ

Ca

cc

Mức đầu cơ cao, thường bị vỡ nợ

c

c

Mức tín nhiệm thấp nhất, vấn đề trả lãi gặp khó khăn

 
Dựa vào ký hiệu xếp hạng tín nhiệm trên, nếu xếp hạng tín nhiêm đat từ mức BBB trở lên AAA (hoặc từ Baa trơ len) thi được gọi là xếp hạng tín nhiệm đầu tư. xếp hạng tín nhiệm đạt từ mức * Ba/BB” trở xuống được gọi là xếp hạng tín nhiệm đầu cơ.

1.3. Tấc dụng của xếp hạng tín nhiệm

* Đôi với nhà đầu tư:
- xếp hang tín nhiệm là một chỉ tiêu rõ ràng, đơn gian và
dễ hiểu để xem xét quyết định đầu tư.
- Là nhân tố quan trọng trong việc đánh giá mối quan hệ
rủi ro và lợi nhuận thu được.
- Là công cụ quản lý danh mục đầu tư.
_ Là công cụ để đánh giá một số rủi ro có liên quan.
* Đối với nhà phát hành:
- Giúp tổ chức phát hành mở rộng thị trường tiêu thụ trên hai khía cạnh: có thê tham gia vào nhiều thị trường vốn khác nhau và mỏ rộng các nhà đầu tư tiềm năng.
- Duy trì sự ổn định của thị trường, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thị trưòng nợ, tăng tính thanh khoản của thị trường.
- Giảm chi phí vay thông qua việc tạo cơ hội cho các nhà phát hành tham gia vào thị trường vôh.
*ĐỐÌ với cấc cơ quan quản lý thị trường chứng khoản
Xêp hạng tín nhiệm cung cấp những thông tin về nguyên tắc thị trường cho quá trình ra quyết định của Chính phủ và cung cấp các thông tin về chính phủ cho cộng đồng quốc tế.

1.4. Xếp hạng tín nhiệm các nhà phát hành

* Xếp hạng tín nhiệm quốc gia: Khi xem xét để xếp hạng tín nhiệm cho một quôc gia, các chuyên gia thường chia rủi ro làm hai loại chính là rủi ro chính trị và rủi ro kinh tế:
■ Rủi ro chính trị: Là đánh giá các nhân tố chính trị và xã hội có tác động đên hoạt động ngoại thương và khả năng trả nợ của một quốc gia. Các khía cạnh được xem xét gồm: Hệ thong chinh tri; Các nhà lãnh đạo cao cấp và cơ quan của Chính phủ; Môi trường xã hội; Quan hệ đối ngoại.
" Rủi ro kinh tế: Khi đánh giá về rủi ro kinh tế, người ta thường tập trung vào những nội dung sau:
+ Sự bền vững của hoạt động kinh tế thông qua việc xem xét sự ổn định kỉnh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, chính sách kinh tế, chính sách tỷ giá, hiệu quả cơ cấu và định hưống phát triển.
+ Cán cân thanh toán quốc tê: Qua việc xem xét tài khoản vãng lai, tài khoản vốn, dự trữ..., các chỉ tiêu đánh giá gồm: Tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa dịch vụ; Kim ngạch xuất khẩu/GDP-
Tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu; Dự trữ ngoại hôly kim ngạch nhập khẩu và các khoản nợ đến hạn phải trả; Cơ cấu nợ khu vực nhà nước và tư nhân.
* xếp hạng tín nhiệm của công ty: xếp hạng tín nhiệm cho các công ty theo các quan điểm của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm là xếp hạng nợ cho các nhà phát hành thuộc lĩnh vực công nghiệp (và tất cả các nhà phát hành khác) không thể cao hơn mức độ tín nhiệm của quốc gia, nơi người phát hành đặt trụ sở chính.
Việc đánh giá khả năng trả nợ của một công ty dựa trên việc đánh giá các yếu tô" sau: Xu hướng phát triển của ngành và quốc gia; Chất lượng quản lý; Hoạt động kinh doanh và vị thế cạnh tranh của công ty; Tình trạng tài chính và nguồn thanh toán; Cơ cấu công ty; Thỏa thuận trợ giúp của công ty mẹ (nếu có); Rủi ro sự kiện đặc biệt.
* Xếp hạng tín nhiệm ngân hàng thương mại: Việc xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng thương mại thường xem xét trên các khía cạnh sau:
- Môi trường hoạt động: Xu hướng cạnh tranh của ngân hàng trong nưóc; Môi trường pháp luật quốc gia; Triển vọng từ sự thay đổi pháp luật; Mối quan hệ giữa ngân hàng với cơ quan pháp luật; Tác động của sự thay đổi pháp luật quổc tế; Vai trò của ngân hàng đối với hệ thống tài chính trong nước.
- Các nhân tô" kỉnh doanh cơ bản của tổ chức ngân hàng.
Vấn đề cơ bản trong phân tích là đánh giá bản thân ngân
hàng thông qua việc sử dụng các chỉ tiêu và nguyên tắc CAMEL trên các mặt sau; vốn, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng lợi nhuận và vấn đề thanh khoản.
 
Phương thức phát hành trái phiêu

2. Phương thức phát hành trái phiêu

2.1. Nghiệp vụ phát hành trái phiếu công ty

Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
Việc phát hành trái phiếu công ty ra công chúng phải tuân theo Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các quy chế phát hành.
* Điều kiện phát hành trái phiếu công ty: Tùy theo điểu kiện của mỗi nước mà điều kiện phát hành có khác nhau, nhưng nhìn chung, một công ty muốn phát hành trái phiếu phải đảm bảo những điều kiện sau:
+ Mức vốn điều lệ thực có tính đến ngày xin phát hành.
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi trong một số năm gần nhất.
+ Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành.
+ Đạt tỷ lệ tối thiểu tổng giá trị trái phiếu xin phát hành phải được bán cho một sô" lượng các nhà đầu tư theo quy định.
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ đối với người đầu tư.
Theo Luật Chứng khoán ở Việt Nam ngày 26-11-2019, điều kiện phát hành trái phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vôn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 30 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kê toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm;
c) Có phương án phát hành, phương án sủ dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua;
d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đốì với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác;
đ) Có công ty chứng khoán tư vấn hồ sơ đãng ký chào bán trái phiếu ra công chúng, trừ trường hợp tổ chức phát hành là công ty chứng khoán;
e) Đáp ứng quy định tại điểm e khoản 1 Điều này;
g) Có kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với tổ chức phát hành trái phiếu theo quy đinh cua Chính phu ve cac trương hợp phải xếp hạng tín nhiệm và thời điêm áp dụng;
h) Tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua trái phiếu của đợt chào bán;
i) Tổ chức phát hành có cam kết và phải thực hiện niêm yết trái phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán.
* Hồ sơ xin phát hành trái phiếu:
Doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu ra công chúng phải gửi hồ sơ xin phát hành lên Uy ban chứng khoán. Hô sơ xin phép phát hành trái phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Giấy đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng;
b) Tài liệu và văn bản cam kết đáp ứng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 15 của Luật Chứng khoán;
c) Quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sơ hữu công ty thông qua phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu ra công chúng và văn bản cam kết niêm yết trái phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán;
d) Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác;
đ) Báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm theo quy định tại
điểm g khoản 3 Điều 15 của Luật Chứng khoán-
e) Hợp đồng tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng với công ty chứng khoán;
g) Văn ban xác nhận của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nưốc ngoài về việc mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua trái phiếu của đợt chào bán;
h) Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).
Trong cac tai liệu nói trên, cân chú ý đên bản cáo bạch và báo cáo tài chính.
+ ủy ban Chứng khoán chỉ xác nhận bản cáo bạch đã được ỉập theo đúng quy định. Tổ chức kiểm toán, tổ chức bảo lãnh phát hành ký vào bản cáo bạch của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trưốc pháp luật về các thông tin và sô' liệu trong bản cáo bạch. Nhà đầu tư căn cứ vào các thông tin trên bản cáo bạch để quyết định đầu tư hay không.
+ Ban bao cáo tài chính: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp xin phép phát hành phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Báo cáo tài chính được lập theo quy định của pháp luật về kế toán.
- Trường hợp tổ chức phát hành là công ty mẹ thì tổ chức phát hành phải nộp báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật về kế toán.
- Báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiem toan được châp thuận thưc hiện kiêm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán. Ý kiến kiểm toán đôi với các báo cáo tài chính là ý kiến chấp nhận toàn phân; trường hợp ý kiên kiểm toán là ý kiên ngoại trừ thì khoản ngoại trừ không ảnh hưởng đến điều kiện chào bán- tổ chức phát hành phải có tài liệu giải thích hợp lý và có xác nhận của tổ chức kiểm toán vê ảnh hưởng của việc ngoại trừ
- Trưòng hợp hồ sơ được nộp trong thời gian 60 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, báo cáo tài chính năm của năm trước đó trong hồ sơ ban đầu có thể là báo cáo tài chính chưa có kiểm toán, nhưng phải có báo cáo tài chính được kiểm toán của 02 năm trước liền kề.
- Trường hợp ngày kết thúc kỳ kế toán của báo cáo tài chính gần nhất cách thời điểm gửi hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng đầy đủ và hợp lệ đến ủy ban Chứng khoán Nhà nước quá 90 ngày, tổ chức phát hành phải lập báo cáo tài chính bổ sung đến tháng hoặc quý gần nhất.
Trường hợp bổ sung hồ sơ xin phép phát hành: Doanh nghiệp có nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung hồ sơ trước khỉ được cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán xuất phát từ phía doanh nghiệp hoặc xuất phát từ ủy ban Chứng khoán yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung.
Sau khi ủy ban Chứng khoán cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng mà phát sinh thông tin quan trọng liên quan đến hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng thì trong thòi hạn 07 ngày làm việc, tổ chức phát hành phải công bõ' thông tin phát sinh theo phương thức quy định tại khoản 3 Điều 25 của Luật Chứng khoán và thực hiện việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan đến hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng:
- Tổ chức phát hành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng.
- Tổ chức tư vấn phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức kiểm toán được chấp thuận, người ký báo cáo kiểm toán và bất kỳ tổ chức, cá nhân nào xác nhận hồ sơ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi liên quan đến hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng.
Việc đền bù thiệt hại cho những người mua chứng khoán được thực hiện theo pháp luật hiện hành.
* ủy ban Chứng khoán có quyền đình chỉ chào bán chứng khoán ra công chúng tối đa là 60 ngày trong các trường hợp sau đây:
+ Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có thông tin sai lệch, bỏ sót nội dung quan trọng có thể ảnh hưỏng tới quyết định đầu tư và gây thiệt hại cho nhà đầu tư;
+ Việc phân phối chứng khoán không thực hiện đúng quy định của Luật Chứng khoán.
- Trong thòi hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày đợt chào bán chứng khoán ra công chúng bị đình chỉ, tổ chức phát hành phải công bố việc đình chỉ chào bán chứng khoán ra công chúng theo phương thức quy định tại Luật Chứng khoán và phải thu hồi chứng khoán đã phát hành nếu nhà đầu tư có yêu cầu, đồng thời hoàn trả tiền cho nhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
- Khi những thiếu sót dẫn đến việc đình chỉ đợt chào bán chứng khoán ra công chúng được khăc phục, Uy ban Chứng khoán ra văn bản thông báo hủy đình chỉ và chứng khoán được tiếp tục chào bán.
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo hủy đình chỉ, tổ chức phát hành phải công bố việc hủy đình chỉ theo phương thức quy định tại Luật Chứng khoán.
Phân phối trái phiếu: Việc phân phôi trái phiếu là việc bán trái phiếu thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành trên cơ sở hợp đồng. Công việc này tương tự như phương thức chào bán cổ phiêu đã được đề cập ỏ mục 2.3.
Tổ chức phát hành đã thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải hoàn thiện hồ sơ đăng ký niêm yết hoặc đăng ký giao dịch chứng khoán trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán.
Tổ chức phát hành hoàn thành việc chào bán trái phiếu ra công chúng phải tuân thủ nghĩa vụ công bô' thông tin theo
quy định của Luật Chứng khoán.
Trái phiếu công ty được chào bán ra công chúng theo các phương thức chào bán chung (bảo lãnh phát hành, đấu thầu, đại lý phát hành...).

2.2. Nghiệp vụ phát hành trái phiếu Chính phủ:

Việc phát hành có thể thực hiện theo các phương pháp sau:
- Công bô" mức giá cô" định và mời chào công chúng đặt mua trong một khoảng thòi gian nhất định: Chính phủ ấn định giá bán, thị trường quyết định sô" lượng trái phiếu được mua. Phương pháp phát hành này tỏ ra hữu dụng trên thị trường đang phát triển - nơi chưa có tỷ lệ lợi tức chuẩn, do vậy, Chính phủ hướng dẫn thị trưòng dưới hình thức giá cô" định là cần thiết.
- Chào bán riêng (bảo lãnh phát hành): Là hình thức trái phiếu được bán trên cơ sở đàm phán với một nhóm các nhà đầu tư hoặc với tổ hợp bảo lãnh gồm các tổ chức tài chính. Chính phủ có thể phân bổ từng phần cho mỗi tổ chức trong tổ hợp, sau đó họ bán lại trái phiếu trên thị trường để hưởng hoa hồng. Trong tổ hợp đó, một tổ chức được chỉ định làm người quản lý phát hành chính và được hưởng hoa hồng quản lý.
- Đấu thầu: Tại các nước có thị truồng chứng khoán phát triển, trái phiếu chính phủ chủ yếu được phát hành bằng phương pháp đấu thầu lãi suất (qua Ngân hàng trung ương hoặc Sở giao dịch chứng khoán).
* Nguyên tắc đấu thầu trái phiếu Chính phủ:
+ Bí mật về mọi thông tin đặt thầu của các đơn vị đặt thầu.
+ TỔ chức đâ"u thầu công khai, bình đẳng vế quyển lợi và nghĩa vụ giữa các đơn vị đặt thầu.
+ Đơn vị trúng thầu có quyền hạn và trách nhiệm mua trái phiếu theo khối lượng và lãi suất trúng thầu.
* Có hai hình thức đấu thầu: Đấu thầu không cạnh tranh và đấu thầu cạnh tranh (giá khác biệt, đấu thầu lãi suất). Có hai loại đấu thầu cạnh tranh là đấu thầu theo kiểu Mỹ (nhiều giá) hoặc kiểu Hà Lan (một giá):
+ Đấu thầu cạnh tranh (kiểu Mỹ) là hình thức đấu thầu, trong đó người thắng thầu sẽ được trả theo giá mà người đó đặt thầu. Các giá thầu được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp (đối vói đấu thầu cổ phiếu) hoặc từ lãi suất thấp đến lãi suất cao (đôi với trái phiếu). Các giá thắng thầu được chọn từ giá cao nhất (đối với cổ phiếu) hoặc từ lãi suất thấp nhất (đối với trái phiếu) cho đến khi toàn bộ trái phiếu được bán hết theo các mức giá đó. Mức giá thấp nhất (hoặc lãi suất cao nhất) trong phạm vi giá thắng thầu được coi là điểm giá giới hạn (giá trỳng thầu).
+ Đấu thầu cạnh tranh theo giá thống nhất (kiểu Hà Lan) cũng được thực hiện như đấu thầu cạnh tranh theo giá khác biệt, nhưng các đơn vị thắng thầu không trả theo giá đặt thầu, mà phải trả ở cùng một mức giá. Thông thường là mức giá thấp - "giá giới hạn" - tức là giá trúng thầu.
Ví dụ: Đợt phát hành trái phiếu 300 tỷ đồng (300.000 trái phiếu mệnh giá 1.000.000 đồng), có 10 đơn vị tham gia đấu thầu với mức bỏ thầu như sau:
Đơn vị 1 đặt giá 9,5% có sốTương đăng ký mua 50 tỷ đồng Đơn vị 2 đặt giá 9,2% có sô" lượng đăng ký mua 60 tỷ đồng Đơn vị 3 đặt giá 9,0% có sô" lượng đăng ký mua 80 tỷ đồng Đơn vị 4 đặt giá 8,5% có sô" lượng đăng ký mua 70 tỷ đồng Đơn vị 5 đặt giá 8,5% có sô" lương đăng ký mua 90 tỷ đồng Đơn vị 6 đặt giá 8,0% có sô" lượng đăng ký mua 100 tỷ đồng Đơn vị 7 đặt giá 7,0% có sôlượng đăng ký mua 50 tỷ đồng Đơn vị 8 đặt giá 7,0% có sô" lượng đăng ký mua 40 tỷ đồng Đơn vị 9 đặt giá 6,0% có sô" lượng đăng ký mua 60 tỷ đồng Đơn vị 10 đặt giá 5,0% có sồ" lượng đăng ký mua 50 tỷ đồng Giá giới hạn của đợt phát hành này là 8%, vì ở giá 8,0% 
sẽ phát hành được hết 300 tỷ đồng dự định phát hành. Các đơn vị dự thầu 6, 7, 8, 9, 10 là những đơn vị trúng thầu.
Nêu đấu thầu cạnh tranh theo nhiều giá (kiểu Mỹ) thì các đơn vị trúng thầu sẽ phải mua trái phiếu theo mức lãi suất mà các đơn vị này đặt thầu. Các đơn vị dự thầu 6, 7, 8, 9, 10 là những đơn vị trúng thầu với lãi suất 8%, 7%, 6%, 5%. Lãi suất trúng thầu bình quân được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền của các tổ chức trúng thầu.
Còn đấu thầu cạnh tranh theo một giá (kiểu Hà Lan) thì cả 5 đơn vị này đều mua trái phiếu với mức lãi suất là 8%.
+ Đấu thầu không có tính cạnh tranh: Là phương pháp đấu thầu trong đó lãi suất phát hành trái phiếu được xác định trên cơ sở lãi suất trung bình của tất cả các mức lãi suất dự thầu. Vối ví dụ trên, lãi suất phát hành của đợt phát hành trái phiếu này là: 8,05%
 
 
Ngoài ra, ở những nước đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, trong khi chưa có một thị trường tài chính hiệu quả, để nâng cao khả năng huy động vốn nhàn rỗi trong công chúng, có thế và cần thiết phải thực hiện việc phát hành trái phiếu chính phủ bằng biện pháp hành chính (bắt buộc). Ví dụ, ồ Việt Nam, Chính phủ phát hành trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị... đã áp dụng biện pháp này. Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng quyền hạn nhà nước để thực hiện phát hành bằng biện pháp hành chính, bởi vì đễ làm mất đi tính thị trường của thị trường chứng khoán. Do vậy, khi có một thị trường chứng khoán hoạt động ổn định và có hiệu quả thì Chính phủ sẽ hạn chê và đi đến chấm dứt việc phát hành 
bằng biện pháp hành chính.
- Xác định giá phát hành trái phiếu:
+ Giá phát hành theo phương thức chiết khấu: Theo phương thức này, thay vì thanh toán lãi, giá phát hành được thanh toán thấp hơn giá trị trái phiếu và được hoàn trả theo giá trị trái phiếu khi đến hạn.
 
Giá phát hành theo phương thức lãi suất cô định: Theo phương thức này, người sở hữu trái phiếu được thanh toán tiển lãi khi đến hạn thanh toán theo mức lãi suất cố định của trái phiếu. Giá phát hành trái phiếu được tính căn cứ vào lãi suất cô' định và lãi suất trúng thầu của từng đơn vị.

2.3. Phát hành trái phiếu đô thị

Trái phiếu đô thị do chính quyền địa phương phát hành. Loại trái phiếu này thường được phát hành ra công chúng bằng phương thức bảo lãnh phát hành. Các thu tục chao ban trái phiếu về cơ bản giống phát hành trái phiếu của Chính phủ.

2.4. Phát hành trái phiếu quốc tê

Trái phiếu quốc tế được phát hành và giao dịch ở Mỹ, Nhật Thụy Sĩ, thị trường trái phiếu châu Âu... Người phát hành trái phiêu quôc tê có thê là Chính phu (bao gôm ca chính quyền địa phương), các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính quốc tê. 0 một sô nước, các tô chức trong nước muôn vay vốn băng việc phát hành trai phieu quoc tê' thì phải đạt một sô' tiêu chuẩn nhất định. Ví dụ: ở Nhật Bản doanh nghiệp phải được xếp hệ số tín nhiệm AAA và phải thông qua tổ hợp bảo lãnh phát hành. 0 Mỹ, viẹc phat hành trái phiêu quốc tê' phải được SEC phê duyệt, được to chức xếp hạng tín nhiệm công nhận... Việc bình xét hệ sô tín nhiệm với trái phiếu quôc tê là rat quan trọng, VI se giup cho 
người phát hành có thể được hưởng lãi suất thấp, dễ huy động vôn hơn, tiềm năng huy động vốn rộng hơn; giúp cho nhà đầu tư có cơ hội cân nhắc rủi ro và đánh giá lợi ích đầu tư của họ.
* Các giai đoạn của quá trình phát hành:
~ Giai đoạn chuân bị: Đây là giai đoạn rất quan trong để đam bao cho sự thành công cua đơt phát hành, cần thưc hiện các công việc sau:
+ Bên phát hành và bên bảo lãnh phát hành (có thể là Ngân hàng hay công ty chứng khoán nước ngoài) phải thảo luận kỹ những vân đề sau:
-> Chọn thị trường phát hành: Khỉ chọn thị trường phát hành phải căn cứ vào phạm vi, qui mô, đối tượng tham gia các quy định của thị trường, đảm bảo phù hợp với yêu cầu lợi ích và khả nàng của người phát hành.
-> Loại ngoại tệ cần thu hút khi phát hành: Việc lựa chọn huy động bằng loại ngoại tệ nào phải chú ý đến các yếu tô' như thị trường (khi phát hành trên thị trường Mỹ phải sử dụng USD), mức độ linh hoạt của ngoại tệ, sự ổn định giá trị tiền tệ; nhu cầu sử dụng ngoại tệ của người phát hành, thói quen và sự ưa thích của các nhà đầu tư, đồng thòi xác định loại ngoại tệ còn là căn cứ để xác định lãi suất.
-> Lãi suất trái phiếu:
Lãi suất của trái phiếu được tính dựa vào lãi suất của thị trường vôn quốc tế, mức độ rủi ro của trái phiếu và loại ngoại tệ phát hành. Có thể áp dụng lãi suất thả nổi hoặc lãi cô' định.
-> Thời điểm phát hành: Việc lựa chọn thời điểm phát hành là rất quan trọng. Đô'i với các trái phiếu có hệ sô' tín nhiệm thấp thì nên tránh những thời điểm có biến động lớn trên thị trưòng. Nêu phát hành trái phiếu vào thời điểm các mức có khôi lượng lớn trái phiếu không bán được... thì sẽ bị ep gia, chi phi có thê cao và không đảm bảo khả năng chắc chắn thành công.
+ Ký kêt hợp đồng: Các hợp đồng được ký kết giữa ngưòi phát hành và các đối tác liên quan, giữa các nhà bảo lãnh trong tập đoàn bảo lánh, đồng thời người phát hành phải nộp đơn xin niêm yết lên Số giao dịch chứng khoán và phải được họ chấp nhận cho phép niêm yết. Các văn bản, hồ sơ phải hoàn thành trong giai đoạn này là:
-> Thông báo chào bán: Là thông báo chính thức về đợt phát hành trái phiêu, trong đó bao gồm một số thông tin như ngày phát hành, mức phát hành, giá phát hành, lãi suất, loại trái phiếu... Đi kèm với thông báo chào bán là bản cáo bạch.
-> Thỏa thuận đặt mua: là văn bản cam kết mua trái phiếu của các nhà bảo lãnh để bán lại cho các nhà đầu tư.
-> Thỏa thuận giữa các nhà bảo lãnh.
-> Thỏa thuận đại lý tài chính và thanh toán.
- Giai đoạn phát hành: Đến ngày phát hành như đã ghi trong thông báo chào bán, các trái phiếu sẽ được giao cho nhà bảo lãnh để họ thực hiện việc bán trái phiếu cho các nhà đầu tư trên thị trường. Toàn bộ sô" tiền thu từ phát hành sẽ được tập trung vào đại lý tài chính và thanh toán của nhà phát hành để thanh toán các chi phí phát hành có liên quan như chi phí in ấn, hoa hồng, chi phí niêm yết, chi phí thanh toán... và thanh toán tiền bán trái phiếu cho nhà phát hành.
 

 

 

Bạn có thắc mắc gì muốn được giải đáp hãy để lại ý kiến ( Họ tên, Số điện thoại hoặc Email, câu hỏi) của mình dưới dưới phần bình luận chúng tôi sẽ giải đáp cho bạn !

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ LIÊN QUAN

CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT


thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội dịch vụ chữ ký số Dịch vụ hoá đơn điện tử dịch vụ thay đổi đăng ký kinh doanh
học kế toán thực hành
0973.981.661