Ví dụ chi phí đầu tư XDCB phát sinh liên quan đến ngoại tệ


Ví dụ chi phí đầu tư XDCB phát sinh liên quan đến ngoại tệ

Công ty cố phần ABC là công ty kinh doanh cho thuê văn phòng cao cấp (tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên) đang thực hiện dự án đầu tư xây dựng toà tháp đôi từ tháng 01/20X2.
 
Thời gian đầu tư xây dựng dự kiến hoàn thành toà tháp đôi đến khi đi vào hoạt động là 3 năm. Công ty ABC sử dụng tỷ giá ghi số để hạch toán bên Nợ TK phải trả, bên Có TK tiền và bên Có TK phải thu.
 
Công ty ABC đã có một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh như sau:
 
1/ Ngày 15/3/20X2, Công ty đã vay của Ngân hàng ANZ số tiền là 300.000 USD cho mục đích xây dựng toà nhà. Thời hạn vay 5 năm. Lãi suất 3%/năm. Tỷ giá giao dịch thực tế giữa đồng USD và đồng Việt Nam tại ngày 15/3/20X3 là 1USD = 20.900 VNĐ.
 
5/ Ngày 28/6/20X3, Công ty ký hợp đồng với Công ty Fruiji ở Nhật Bản về việc mua 2 thang máy của Nhật. Trị giá mua là 450.000 JPY, thuế suất thuế nhập khẩu là 20%, thuế suất thuế GTGT thang máy nhập khẩu 10%.
 
Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng Yên Nhật ngày 28/6/2007 là UPY = 174 VNĐ. Chi phí vận chuyên thang máy từ Hải Phòng về công trình là 9 triệu đồng, đã trả bằng tiền mặt. Thời hạn thanh toán cho công ty Fruiji là 4 tháng kể từ ngày mua.
 
- Tại ngày 28/6/20X3, Công ty ABC ghi:
 
NợTK152: 102.96 triệu
 
Có TK 331: 78,3 triệu (450.000JPY X 174)
 
Có TK 3333: 15,66 triệu (90.000JPY X 174)
 
CÓTK111: 9 triệu
 
- Số thuế GTGT đuợc khấu trừ của thang máy nhập khẩu, Công ty ABC ghi:
 
Nợ TK 133: 9.396.000 đ (540.000 JPY X 174 X 10% )
 
Có TK 33312: 9.396.000 đ
 
6/ Ngày 28/10/20X3, Công ty ABC đã chuyển khoản trả nợ cho Công ty Fruiji so tiền mua thang máy ngày 28/6/20X3. Tỷ giá ghi sổ kế toán của tài khoản tiền gửi ngân hàng là 1 JPY = 180 VNĐ.
 
Tại ngày 28/10/20X3, Công ty ABC ghi:
 
Nợ TK 331: 78,3 triệu (450.000JPY X 174)
 
NỢTK635: 2,7 triệu
 
CÓTK 1122: 81 triệu (450.000JPY X 180)
 
Ví dụ tiếp: Xác định các giao dịch bằng ngoại tệ và các khoản mục tiền tệ CÓ gốc ngoại tệ
 
1. Xác định các giao dịch bằng ngoại tệ:
Các giao dịch bằng ngoại tệ phải là các giao dịch phải thanh toán bằng ngoại tệ. Một giao dịch thanh toán bằng VND nhưng nếu đon giá bằng ngoại tệ không được coi là giao dịch bằng ngoại tệ.
 
Ví dụ: Khi bán một loại sản phẩm, hàng hóa, đon giá tính là 2USD/sản phẩm nhưng thanh toán bằng VND. Trường hợp này bản chất của giao dịch là người bán muốn phòng ngừa rủi ro từ chênh lệch tỷ giá nên chốt giá bán là 2USD để đảm bảo khi nhận được VND thì có the mua được đủ 2USD.
 
Như vậy, số tiền VND phải thanh toán có thế sẽ biến động tùy theo tỷ giá nhung giao dịch này không được coi là giao dịch bằng ngoại tệ.
 
2. Xác định các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ
 
Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ sẽ phải đánh giá lại tại thời diêm lập báo cáo tài chính. Vì vậy, cần phải xác định rõ các khoản mục nào trên BCTC là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để tránh bỏ sót không đánh giá lại cũng như đánh giá nhầm khoản mục phi tiền tệ.
 
Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ là các tài sản có quyền thu hồi bằng ngoại tệ hoặc nợ phải trả phải thanh toán bằng ngoại tệ. Như vậy nếu các tài sản được thu hồi hoặc nợ phải trả được thanh toán bằng hàng hóa, dịch vụ, TSCĐ, chứng khoán... thì đều không được coi là khoản mục tiền tệ (vì chúng là khoản mục phi tiền tệ).
 
Do đó, việc phân biệt một khoản mục là tiền tệ hay phi tiền tệ không căn cứ vào việc khoản mục đó được trình bày như thế nào trên Báo cáo tình hình tài chính (Bảng cân đối kế toán) mà căn cứ vào việc khi thu hồi hoặc thanh toán khoản mục đó thì được thực hiện bằng tiền hay không bằng tiền.
 
a) Một số khoản mục thường được phân loại là khoản mục tiền tệ và nếu được thanh toán hoặc thu hồi bằng ngoại tệ thì cần phải đánh giá lại tại thời điểm báo cáo như:
 
- Số dư tiền bằng ngoại tệ (kể cả tiền mặt, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn); Các khoản tương đương tiền (ví dụ như tiền gửi có kỳ hạn gốc dưới 3 tháng);
 
- Các khoản đầu tư vào công cụ nợ (ví dụ như tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu);
 
- Các khoản phải thu được thu hồi bằng ngoại tệ, như:
 
+ Phải thu của khách hàng;
 
+ Phải thu khác, như phải thu về cho vay, ký cược, ký quỳ, tạm ứng...
 
- Các khoản phải trả được thanh toán bằng ngoại tệ, như:
 
+ Phải trả cho người bán;
 
+ Các khoản đi vay;
 
+ Các khoản chi phí phải trả;
 
+ Các khoản phải trả khác như nhận ký cược, ký quỹ, thu hộ.
 
Trường hợp những khoản trên không được thanh toán bằng tiền thì không được coi là khoản mục tiền tệ.
 
Tuy nhiên cần chú ý trường hợp doanh nghiệp ghi sổ kế toán và lập BCTC bằng VND thì một số khoản mục mặc dù được phân loại là khoản mục tiền tệ nhưng hầu như chỉ thanh toán bằng VND, không thanh toán bằng ngoại tệ nên không phải đánh giá lại như:
 
- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước;
 
- Phải trả về BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, KPCĐ;
 
- Phải trả người lao động bằng tiền (hầu như trả bằng VND, rất hiếm trường hợp trả bằng ngoại tệ). Trường hợp trả bằng hàng hóa, dịch vụ thì được phân loại là khoản mục phi tiền tệ;
 
- Quỹ khen thưởng phúc lợi, Quỹ phát triển khoa học công nghệ.
 
b) Các khoản mục được phân loại là phi tiền tệ và không cho phép đánh giá lại, như:
 
- Các khoản đầu tư vào công cụ vốn như đầu tư vào cổ phiếu, góp vốn liên doanh, ỉiên kết...;
 
- Hàng tồn kho;
 
- TSCĐ, BĐSĐT, XDCB dở dang;
 
- Các khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu, như vốn góp, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối...
 
c) Một số khoản mục đặc biệt cần chú ý có thế là khoản mục tiền tệ hoặc phi tiên tệ vì phụ thuộc vào tình hình thực tế, như các khoản trả trước cho người bán, chi phí trả trước hoặc nhận trước của người mua, doanh thu chưa thực hiện (doanh thu nhận trước):
 
- Neu trong điều kiện hợp đồng diễn ra bình thường thì bên trả trước mặc dù ghi nhận là phải thu nhưng sẽ thu hồi bằng hàng hóa, dịch vụ, tài sản; Bên nhận trước ghi nhận là nợ phải trả nhưng sẽ thanh toán bằng hàng hóa, dịch vụ, tài sản nên khoản mục trả trước cho người bán và nhận trước của người mua sẽ không phải là khoản mục tiền tệ và không phải đánh giá lại.
 
- Trường họp họp đồng giao hàng hóa, tài sản, dịch vụ không thể thực hiện thì các bên có quyền thu hồi số tiền trả trước và trả lại số tiền đã nhận trước thì khoản mục này sẽ là khoản mục tiền tệ và nếu thanh toán bằng ngoại tệ thì phải đánh giá lại tại thời diêm lập báo cáo cuối kỳ.
 
Xem thêm: 
 
 
 
Chúc bạn thành công !

Các tin cũ hơn